ĐOÀN LUẬT SƯ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CÔNG TY LUẬT TNHH MẠNH TÍN

3 trường hợp người lao động phải bồi thường cho doanh nghiệp

15-10-2019

Bồi thường cho doanh nghiệp là điều bất kỳ người lao động nào cũng muốn tránh. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết cách làm điều đó một cách hiệu quả.

Trong bài viết này, hãy cùng Luật Mạnh Tín điểm qua 3 trường hợp người lao động phải bồi thường cho doanh nghiệp để tránh mất tiền các bạn nhé.

 

Trường hợp thứ nhất: Người lao động vi phạm quy định về bí mật kinh doanh, công nghệ (Điều 23 Bộ luật lao động năm 2012)

Khi người lao động làm việc có liên quan trực tiếp đến bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ theo quy định của pháp luật, thì người sử dụng lao động có quyền thỏa thuận bằng văn bản với người lao động về nội dung, thời hạn bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, quyền lợi và việc bồi thường trong trường hợp người lao động vi phạm.

Theo đó, nếu trong trường hợp người lao động đã thỏa thuận bằng văn bản với người sử dụng lao động về nghĩa vụ bảo vệ bí mật kinh doanh, công nghệ mà vi phạm thì sẽ phải bồi thường. Mức bồi thường sẽ được thực hiện dựa theo sự thỏa thuận của các bên.

Xem thêm: 5 điểm cần lưu ý khi giao kết hợp đồng lao động

 

Trường hợp thứ hai: Người lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật (Điều 43 Bộ luật lao động năm 2012)

Người lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật được hiểu là trường hợp người lao động tự ý nghỉ việc mà không có lý do chính đáng hoặc vi phạm nghĩa vụ báo trước theo quy định của pháp luật.

Xem thêm: 7 lý do chính đáng để NLĐ đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Trong trường hợp này, căn cứ theo Điều 43 Bộ luật lao động năm 2012, không những không được trả trợ cấp thôi việc mà người lao động còn phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động, phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động.

Bên cạnh đó, nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

 

Trường hợp thứ ba: Người lao động làm hư hỏng, công cụ, thiết bị của doanh nghiệp (Điều 130 Bộ luật lao động năm 2012)

Trừ tường hợp thiệt hại do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh, thảm họa hoặc do sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù người sử dụng lao động đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì người lao động không phải bồi thường. Còn lại, người lao động sẽ phải bồi thường trong các trường hợp sau:

a) Người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương ghi trong hợp đồng lao động của tháng trước liền kề trước khi gây thiệt hại bằng hình thức khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại Khoản 3 Điều 101 của Bộ luật Lao động do sơ suất làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị với giá trị thiệt hại thực tế không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng áp dụng tại nơi người lao động làm việc do Chính phủ công bố.

b)Người lao động phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường khi thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Do sơ suất làm hư hỏng dụng cụ thiết bị với giá trị thiệt hại thực tế từ 10 tháng lương tối thiểu vùng trở lên áp dụng tại nơi người lao động làm việc do Chính phủ công bố;
  • Làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao;
  • Tiêu hao vật tư quá định mức cho phép của người sử dụng lao động.

c) Trường hợp người lao động gây thiệt hại cho người sử dụng lao động theo quy định tại Khoản 2 Điều 32 Nghị định 05/2015/NĐ-CP mà có hợp đồng trách nhiệm với người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm

Đăng ký nhãn hiệu Sang tên sổ đỏ Thành lập doanh nghiệp

Hotline

0865474505

Call Center

0906984505

Tư vấn miễn phí

Vui lòng nhập thông tin bên dưới để được tư vấn và thông tin ưu đãi, khuyến mại đặc biệt dành cho khách khàng.




Hình ảnh hoạt động